Cốt lõi của thiết bị khí hóa sinh khối của Công ty TNHH Công nghệ Nhiệt Giang Tô Jufeng là chuyển đổi nhiệt hóa. Nó không đốt cháy nhiên liệu trực tiếp. Thay vào đó, nó giữ lượng oxy cung cấp ở mức rất thấp nên sinh khối rắn trước tiên trải qua quá trình nhiệt phân và sau đó được khử trong môi trường thiếu oxy, cuối cùng trở thành khí dễ cháy.
Lò có bốn khu, từ trên xuống dưới. Phía trên cùng là vùng sấy khô, ở nhiệt độ khoảng 100-200°C, nơi độ ẩm trong nguyên liệu bay hơi. Bên dưới đó là vùng nhiệt phân, ở nhiệt độ 200-500°C, nơi sinh khối bị phân hủy và giải phóng hắc ín, giấm gỗ và các loại khí dễ bay hơi khác nhau, để lại cacbon cố định. Tiếp theo là vùng oxy hóa, phần nóng nhất ở khoảng 700-1200°C. Một số chất dễ bay hơi và cacbon cố định phản ứng với oxy ở đây và giải phóng một lượng nhiệt lớn, tạo năng lượng cho các phản ứng thu nhiệt ở phía dưới. Ở phía dưới là vùng khử, nơi carbon phản ứng với hơi nước và hydro trong các phản ứng khí-nước và phản ứng metan hóa, tạo ra các loại khí dễ cháy như carbon monoxide và metan. Điều này hoàn thành quá trình sản xuất khí.
Sản phẩm phụ là vấn đề đau đầu nhất trong quá trình vận hành. Nhựa đường ngưng tụ trên tường ở những khu vực mát hơn và có thể làm tắc nghẽn đường ống, vì vậy nó thường được loại bỏ bằng cách crackinh xúc tác hoặc cọ rửa bằng nước. Kim loại kiềm trong nguyên liệu có xu hướng gây xỉ trong lò ở nhiệt độ cao và có thể làm xáo trộn dòng khí bên trong, ảnh hưởng đến sự ổn định trong vận hành. Máy khí hóa của Jufeng được trang bị hệ thống xả tro tự động và giám sát nhiệt độ trực tuyến, giúp điều chỉnh các điều kiện vận hành theo thời gian thực để giữ cho thiết bị hoạt động trơn tru.